Friday, February 4, 2011

dan toc bieu tuong

Viết sử dân tộc qua biểu tượng

Anthony Smith 2009, Lê Hải dịch [1]

Mục tiêu của cuốn sách này là đưa ra một tuyên ngôn ngắn mà đầy đủ về phương pháp tiếp cận dân tộc biểu tượng (ethno-symbolic) trong nghiên cứu các quốc gia và dân tộc. Nó nhắm đến việc trình bày cơ sở lý thuyết của quá trình hình thành, các mặc định và quan tâm chính, và phân tích về quá trình hình thành các quốc gia, sự bền vững và thay đổi và vai trò của chủ nghĩa quốc gia. Cùng lúc sách cũng chứa một xác nhận chung cho đóng góp của tôi vào lối tiếp cận này và áp dụng cho các vấn đề trung tâm của các quốc gia và chủ nghĩa quốc gia.

“Trường phái dân tộc biểu tượng” không đòi hỏi trở thành một lý thuyết khoa học. Nên coi đây là một thế giới quan riêng cho, và chương trình nghiên cứu để, nghiên cứu các quốc gia và chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, tên gọi hình thành một cách tình cờ, phát xuất từ các trao đổi tại Đại học kinh tế chính trị London (LSE) vào cuối thập niên 1980s về bản chất tự nhiên của các nhóm dân tộc và các quốc gia, và nhu cầu phảI khảo sát các chều biểu tượng của họ.

Các thành phần biểu tượng của dân tộc

Trong chương trước, tôi đã lập luận rằng tâm điểm các mối quan tâm của trường phái dân tộc-biểu tượng là nhu cầu hiểu “thế giới bên trong” của dân tộc và chủ nghĩa quốc gia thông qua phân tích các thành phần biểu tượng và hệ trục chủ quan. Các nét sơ khai của mối quan tâm này xuất hiện trong tác phẩm Các quốc gia trước khi có Chủ nghĩa quốc gia (Nations before Nationalism) của John Armstrong (1982). Trong bộ sách phục vụ thảo luận đó, ông lập luận rằng sự bền vững của các bản sắc dân tộc và các quốc gia thậm chí đáng kể hơn các thay đổi mà họ đang trải qua, và rằng vì lẽ đó chúng ta cần tập trung vào vùng biên biểu tượng tách rời họ khỏi láng giềng. Theo bước tiên khởi của Fredrik Barth, Armstrong cho rằng vùng biên xã hội của nhóm bền hơn quan niệm văn hóa của các thành viên và các tính chất đính kèm. “Tính dân tộc” bản thân từng được hiểu theo lối hiện tượng luận như một nhóm các thuộc tính, tâm tư hay quan niệm thay đổi. Vì vậy cần phải tính đến độ bền của các nhóm dân tộc trong qui mô của các cơ chế tạo biên biểu tượng như là từ, chữ, ngôn ngữ, quần áo và kiến trúc, phương pháp mà tầng lớp cao chuyển tải biểu tượng, và các kết cấu huyền thoại thành công mà bên trong có chứa các biểu tượng đó. Huyền thoại, biểu tượng và giao tiếp - phức hệ của huyền thoại và biểu tượng – cung cấp các công cụ khái niệm cần thiết để phân tích các nhóm dân tộc và các quốc gia theo chiều dài lịch sử (longue durée), cũng như để tóm bắt chức năng trọng tâm của động cơ huyền thoại (mythomoteurs) - tổ hợp các huyền thoại tạo dựng ra một thể chế dân tộc - bảo đảm sự bền vững lâu dài cho các bản sắc dân tộc. (Đọc thêm các sách của Armstrong xuất bản năm 1982 và 1995, cũng như Barth năm 1969, và tranh luận trong chương 8 của sách A.D. Smith xuất bản năm 1998)

Sau đó không lâu, tác phẩm Động lực học của Chủ nghĩa quốc gia văn hóa (Dynamics of Cultural Nationalism) của John Hutchinson (1987) cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các yếu tố văn hóa dài hạn trong lý giải về sự gia tăng của các phong trào quốc gia. Trong các trường hợp như là Ireland chúng ta có thể phân biệt diễn biến song song của hai loại hình phong trào quốc gia, thứ nhất là mang tính chính trị và nhắm đến nhà nước và chủ quyền, còn thứ hai là mang tính văn hóa và quan tâm nhiều hơn đến tái tạo đạo đức cho cộng đồng dân tộc và việc thiết lập một quốc gia tự tồn tại. Trong các trường hợp này vai trò của giới tri thức cổ xúy tư tưởng quốc gia văn hóa là tối cần thiết trong quá trình định nghĩa và hồi phục cộng đồng dân tộc [2] thông qua việc tái phát hiện các huyền thoại cổ xưa, các biểu tượng và ký ức, và thường hoạt động song hành với tư tưởng quốc gia chính trị, hay một dạng thay thế khi hình thức kia không đạt được mục tiêu. Nhìn theo cách này thì các nhà hoạt động theo chủ nghĩa quốc gia văn hóa cũng là những người “xây dựng quốc gia” như bất kể nhà hoạt động theo chủ nghĩa quốc gia chính trị nào hướng tới việc thành lập nhà nước. (Xem thêm các sách của Hutchinson xuất bản năm 1987, 1992 và 1994)

Huyền thoại, biểu tượng, ký ức và giá trị cũng chiếm vị trí trung tâm trong các xây dựng của riêng tôi. Ban đầu tôi quan tâm tới nhiều định hướng khác nhau – người phát động tân truyền thống, người cổ xúy đồng hóa và người theo hướng cải tổ - trong giới tri thức [3] trong quá trình hình thành các phong trào quốc gia, và cách họ phản ứng với các thách thức từ “nhà nước khoa học” với tôn giáo. Nhưng trong tác phẩm Sự hồi sinh của dân tộc (The Ethnic Revival 1981) tôi bắt đầu đặt vị trí của các quốc gia và chủ nghĩa quốc gia trong một bối cảnh lịch sử rộng hơn, và như John Armstrong, lập luận về nhu cầu cần phân tích các nguồn gốc dân tộc lâu dài của họ. Trong tác phẩm Các nguồn gốc dân tộc của các quốc gia (The Ethnic Origins of Nations 1986) tôi thu nhận khái niệm của Armstrong về ‘phức hệ huyền thoại và biểu tượng’ và tập trung vào vai trò của các cộng đồng dân tộc (ethnie) trong sự hình thành của các quốc gia, ủng hộ nhu cầu kiểm tra các biểu tượng, huyền thoại, ký ức và giá trị cá nhân mà họ lấy làm cơ sở, những động cơ huyền thoại (mythomoteurs) chống đỡ cho các thể chế của họ, và các loại hình cộng đồng dân tộc khác nhau tạo nền cho sự hình thành quốc gia sau đó - chủ đề mà tôi sẽ quay lại. (Xem thêm sách của Smith xuất bản năm 1983, đặc biệt là chương 10, cùng các tác phẩm năm 1981 và 1986)

Hệ quả của tất cả điều này là, ngược với thành ngữ tiếng Anh đặt “biểu tượng” trong thế (đơn giản là) ngược với “thực tại”, các nhà dân tộc biểu tượng học nay tuyên bố rằng các thành phần văn hóa này cũng là một phần của thực tại xã hội như bất kỳ vật chất hay các yếu tố tổ chức nào; hơn vậy, thực tại xã hội không thể hiểu được bên ngoài hệ tư tưởng biểu tượng. Và nếu các nhà dân tộc biểu tượng nhấn mạnh đến các yếu tố văn hóa đó, thì theo quan điểm của họ sự chuyển đổi cân bằng đã bị xáo trộn từ các hệ thống đã chuyển “biểu tượng” sang siêu kết cấu hay thậm chí hiện tượng phụ, làm tổn hại sự thông hiểu đầy đủ hơn và có sắc thái về dân tộc, các quốc gia và chủ nghĩa quốc gia.

Vượt quá các diễn giải chung vừa trình bày, các nhà dân tộc biểu tượng học coi các thành phần văn hóa như biểu tượng, huyền thoại, ký ức, giá trị, nghi lễ và truyền thống là tối quan trọng trong phân tích về dân tộc, các quốc gia và các chủ nghĩa quốc gia. Có nhiều lý do cho điều đó. Đầu tiên, các tổ hợp khác nhau của những phần tử này đã giữ vai trò, và tiếp tục giữ vai trò sống còn trong quá trình tạo ra các kết cấu xã hội và các văn hóa, định nghĩa và chính danh hóa các quan hệ của các khu vực, nhóm và cơ quan khác nhau trong một cộng đồng. Bằng các phương pháp đó, họ bảo đảm một mức độ nhận thức chung, nếu không phải là dính liền, ngay cả trong các giai đoạn khủng hoảng và thay đổi nhanh chóng, và ngay cả khi một số huyền thoại, biểu tượng và truyền thống tiên khởi bị thay đổi hay bác bỏ, như từng xuất hiện trong các cuộc Cách mạng Pháp, Nga và Trung Quốc. Thứ hai, cũng những phần tử văn hóa đó để lại cho mỗi cộng đồng một tổ hợp trình diễn trong ngôn ngữ, tôn giáo, các phong tục và các cơ chế, vốn giúp phân biệt với các cộng đồng tương tự khác trong mắt cả thành viên lẫn người bên ngoài, và tăng vai trò của cộng đồng và làm sắc nét ranh giới xã hội và sự đối lập với bên ngoài, như là ranh giới tiếp tục định nghĩa cộng đồng và phân chia “chúng ta” với “họ”. Cuối cùng, các giá trị, các ký ức, các nghi lễ và các truyền thống được chia sẻ giúp củng cố một ý niệm liên tục với các thế hệ quá khứ của cộng đồng - một tình cảm được tăng cường nhờ sự chấp nhận rộng rãi của các biểu tượng tập thể như cờ, quốc ca hay ngày nghỉ lễ mà ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian nhưng hình thức gần như là cố định. Các biểu tượng đó đặc biệt quan trọng trong lễ hội và nghi thức của văn hóa công cộng, vốn giúp thiết lập và giữ vững các liên kết cộng đồng và ý niệm về bản sắc dân tộc. (Về các biểu tượng dân tộc ở Israel có thể đọc sách của Gal xuất bản năm 2007, về tư tưởng biểu tượng nói chung đọc Roshwald năm 2006, và với các biểu tượng của các nước châu Ấu, đặc biệt là cờ và ngày lễ quốc gia, đọc Elgenius 2005)

Nhờ tập trung vào “thế giới biểu tượng”, theo một số cấp độ có thể bước vào “thế giới nội tại” của các thành viên các cộng đồng dân tộc và các quốc gia, và những người tham gia vào các phong trào quốc gia, cho phép chúng ta ghi nhận đầy đủ hơn và cân bằng hơn về các hiện tượng đó. Các phân tích của các nhà hiện đại học rất thường nhận dạng các điều kiện kết cấu nào khuyến khích sự tăng trưởng của các quốc gia và/hoặc các chủ nghĩa quốc gia, nhưng ngưng không nói gì thêm về nội dung của các tư tưởng quốc gia và các phong trào hay hình dạng riêng biệt của các quốc gia, hay hơn nữa các sắc dân hay nhóm nào nhiều khả năng sẽ trở thành các quốc gia hiện đại. Để trả lời các câu hỏi đó, chúng ta phải cố gắng đánh giá tiếng nói của các chủ đề khác nhau – các huyền thoại, các ký ức, các biểu tượng, các giá trị và tương tự - với các tầng lớp khác nhau trong dân chúng, và các lý do cho mối quan hệ này, không chỉ về các lợi ích và nhu cầu vật chất mà còn viễn kiến và khát vọng, mức độ thân thuộc của các khái niệm được sử dụng, các truyền thống dân gian, phong tục và tương tự. Cho nên có nhu cầu bổ sung các phân tích kết cấu bằng một tìm hiểu trong thế giới văn hóa và biểu tượng của dân tộc tính và quốc gia tính.

Mối quan tâm này với thế giới biểu tượng có lúc được mô tả như một lối tiếp cận “chủ quan”, ví dụ như một trong số các điểm tập trung chủ yếu vào cảm giác và tính cách của người ta, cho đến sự loại trừ của các yếu tố được coi là “khách quan”. Điều đó rất xa sự thật. Không rõ mối phân chia trước đây về các yếu tố chủ quan và khách quan có còn giá trị diễn giải hay không, khi mà rất nhiều hướng đi và thành phần được đưa vào bất kỳ xem xét nào đều có cả hai dạng thức đó, ví dụ như chúng ta nên xếp “truyền thống” hay “nhu cầu vai vế” vào nhóm khách quan hay chủ quan? Trong bất kỳ trường hợp nào thì các tiếp cận dân tộc biểu tượng đều luôn vượt qua ranh giới (ước định) giữa chúng, và các khái niệm được vận dụng có thể được coi là cùng lúc “khách quan” và “chủ quan”. Với các nhà dân tộc biểu tượng học, văn hóa – và văn hóa trong mối quan hệ với chính trị - là trung tâm, không phải các cảm giác hay tính cách chủ quan. Và “văn hóa” được hiểu nhiều hơn là các ý tưởng hay lý tưởng, vấn đề mà tôi sẽ quay trở lại trong chương 6.

Lịch sử văn hóa của quốc gia

Bất kể trong trạng thái tái chấp nhận, tiếp tục hay tái xuất, mối quan hệ giữa quá khứ hay các quá khứ dân tộc với hiện tại quốc gia là tâm điểm cho các mối quan tâm của hệ tư duy dân tộc biểu tượng. Đó là tại sao phân tích lịch sử cả một giai đoạn dài là không thể thiếu để điều tra các sắc thái, hình dạng và độ bền của các quốc gia và chủ nghĩa quốc gia, và tại sao sự lệ thuộc của trường phái hiện đại và một giai đoạn hiện đại duy nhất trong nghiên cứu lại giới hạn và đại khái đến bất ngờ. Ngay cả khi chúng ta nhận rằng cộng đồng quốc gia đang nghiên cứu xuất hiện chỉ trong thời hiện đại, chúng ta vẫn phải khảo sát dân tộc và các tiền đề văn hóa của nó, và các mô hình của cộng đồng xã hội và biểu tượng mà một số thành viên của nó hướng tới, nếu chúng ta muốn đưa ra một giải thích tròn trịa và hài lòng hơn về các mặt văn hóa riêng biệt và vị trí địa lý văn hóa mà nó chiếm giữ trong mối quan hệ với các cộng đồng khác.

Cho nên, nhiệm vụ lý thuyết chính của một phân tích dân tộc biểu tượng là cho ra một lịch sử văn hóa của quốc gia như một loại hình của cộng đồng văn hóa lịch sử. Tôi nói vậy có nghĩa là một khảo sát vào các hình ảnh tự thân về văn hóa và xã hội thành công và ý niệm về bản sắc, các mâu thuẫn tư tưởng và thay đổi xã hội của một nhóm dân được định nghĩa bằng văn hóa trong một khu vực nhất định và/hoặc thể chế. Những hình ảnh về bản thân đó, bản sắc, mâu thuẫn và thay đổi phát xuất từ cuộc chơi giữa các công trình chính trị và văn hóa cạnh tranh từ các giai cấp khác nhau, các tuyên ngôn tôn giáo và các nhóm dân tộc trong một khu vực đã định và quần thể và/hoặc thể chế, cũng như ảnh hưởng chính trị của các sự kiện và tập thể bên ngoài, đặc biệt là, nhưng không hề mang tính loại trừ, trong thời hiện đại của chủ nghĩa quốc gia. Họ cũng phụ thuộc nhiều vào các loại hình khác nhau của văn hóa công chúng riêng biệt - cấu trúc trên dưới, đồng thuận và dân sự cộng hòa - vốn phát xuất từ các mô hình văn hóa công cộng trong thế giới cổ đại và hình thành trong lịch sử nên cấu trúc xã hội và chính trị của các cộng đồng ngày càng “quốc gia” từ giữa thời Trung Cổ cho đến hiện tại. Như kết quả của cuộc chơi phức tạp này giữa các yếu tố và mô hình, chúng ta thường thấy hai hay nhiều hơn viễn kiến về vận số của dân tộc cạnh tranh cho ảnh hưởng chính trị tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian, với các thành viên của cộng đồng tìm về các thời đại vàng khác nhau và các loại văn hóa công chúng khác nhau, đặc biệt là trong các giai đoạn khủng hoảng và được coi là suy thoái, và đề nghị các công trình khác và thậm chí ngược lại để phục hồi quốc gia. Trường hợp như vậy có thể giải quyết bằng cách bỏ một công trình cạnh tranh, có thể qua cách mạng của một loại khác, hay quá trình cải tổ xã hội và văn hóa và phục hồi đạo đức vốn thường tham gia loại hình lắp ghép nhất định dựa trên lựa chọn và tái giải thích các truyền thống nhận được. (Để có thêm bàn luận đầy đủ hơn về ba loại văn hóa công cộng tách biện tìm đọc sách của A.D. Smith xuất bản năm 2008, chương 4-7, cũng như Hutchinson năm 2005 chương 3 về khái niệm “các cuộc chiến văn hóa” quốc gia)

Các diễn giải vừa rồi cho phép chúng ta lên sơ đồ các bước ghi chép theo phương pháp dân tộc biểu tượng cho các quốc gia và chủ nghĩa quốc gia, mà tôi sẽ mô tả chi tiết sau. Bắt đầu từ các cơ sở dân tộc được hình thành từ cuộc chơi của các mối quan hệ huyết thống, văn hóa và hoạt động chính trị, một lịch sử văn hóa của quốc gia đầu tiên cần tìm cách lần theo các quá trình xã hội và biểu tượng trong quá trình hình thành, trước khi tiếp tục phân biệt các loại cộng đồng quốc gia khác nhau và các con đường [4] hình thành quốc gia khác nhau, cũng như là các giai đoạn kế tiếp. Và rồi có thể khảo sát vai trò của các loại hình chủ nghĩa quốc gia khác nhau, như một diễn biến tư tưởng trong vận động quần chúng và tạo dáng các quốc gia tách biệt, cũng như là phần đóng góp của giới tri thức và chuyên viên theo tư tưởng quốc gia trong quá trình này. Cuối cùng, điều này có thể kéo theo cuộc điều tra các lực tạo ra độ bền vững và thay đổi của các quốc gia, đặc biệt là trong thế giới hiện đại. Nghiên cứu đó sẽ cần phân tích các nguồn văn hóa và tôn giáo nền tảng của quốc gia, cũng như các mâu thuẫn giữa các tầng lớp cao là những người đưa ra các câu chuyện dân tộc lịch sử khác nhau và tìm cách thực hiện các công trình thường đối lập nhau về tái lập quốc gia và “vận mệnh quốc gia” đại diện cho “nhân dân”.

Điều này như vậy sẽ tạo ra các vấn đề nối tiếp làm cơ sở cho ba chương tiếp theo, mà chương đầu tiên sẽ dành cho sự hình thành của các quốc gia, chương hai là vai trò của chủ nghĩa dân tộc, và chương ba là sự bền vững, thay đổi và các nguồn lực của quốc gia. Một lần nữa, cần nhấn mạnh đến lợi ích và giới hạn của lối tiếp cận như vậy. Giải pháp này không hề nhằm thay thế lối viết sử tiêu chuẩn của trường phái hiện đại, mà tập trung vào các thành phần biểu tượng và xã hội để tìm cách bổ sung và nơi cần thiết thì điều chỉnh các mô hình chính trị và kinh tế phổ biến từ trước do trường phái hiện đại đưa ra. Nói cách khác, lối tiếp cận này nhằm tiếp nối từ nơi mà các lối viết sử qui ước dừng lại, và cung cấp thêm các chiều văn hóa và biểu tượng mà họ thường bỏ qua. Điều thường khiến tạo cảm giác rằng rất nhiều sách sử hiện đại không bao giờ đến được mục tiêu vì họ không thể vào được “thế giới bên trong” của các thành viên của cộng đồng quốc gia. Đó chính xác là điều mà lịch sử văn hóa của quốc gia, mà trường phái dân tộc biểu tượng mời chào, muốn làm tốt.

[1] Trích dịch từ quyển Ethno-Symbolism and Nationalism: A cultural approach, Rotledge xuất bản năm 2009, trang 1 (2 đoạn đầu) và 22-26 (mục Các phần biểu tượng của dân tộc) và 38-39 (mục Lịch sử văn hóa của quốc gia). Tựa đề do người dịch đặt, lắp ghép các phần nhằm giới thiệu những điểm chính trong hệ thống lý thuyết mà Anthony Smith đã xây dựng từ thập niên 1980s, hiện đang tiếp tục ảnh hưởng mạnh trên thế giới. Để phân biệt từ gốc tiếng Anh thì những khái niệm có liên quan tới ethnie sẽ được dịch là dân tộc, còn nation là quốc gia. Khái niệm chủ nghĩa quốc gia hay tư tưởng quốc gia đều là cùng từ chữ tiếng Anh nationalism mà ở nơi khác và thông thường người dịch vẫn gọi là chủ nghĩa dân tộc, như trong bài tổng quan về chủ nghĩa dân tộc trên tạp chí Talawas mùa thu 2009 có thể truy cập qua địa chỉ mạng http://www.tapchitalawas.org/pdf/talawas_tapchi_muathu09_LeHai.pdf. Các chú thích bên dưới tiếp theo cũng là của người dịch, còn chú thích trong bản gốc được đặt trong ngoặc đơn nối vào phần văn bản chính.

[2] Tiến trình này đang diễn ra ở Việt Nam như mô tả của Lương Văn Hy trong bài viết Tái cơ cấu tư tưởng quốc gia Việt Nam 1954-2006 (Restructuring Vietnamese nationalism 1954-2006) đăng trên tạp chí Pacific Affairs của đại học British Columbia số 80, tập thứ 3 mùa thu năm 2007, trang 439-453. Bản tiếng Anh trên mạng có thể truy cập ở địa chỉ http://pacificaffairs.ubc.ca/pdfs/luong.pdf. Tư tưởng quốc gia văn hóa thể hiện ra qua các hoạt động của nhà cầm quyền, từ thay đổi luật lệ cho đến tổ chức lễ hội văn hóa cổ truyền thay vì cấm cản và đối lập như trước kia. Cũng theo đó thì chủ nghĩa quốc gia không chỉ đơn giản là cặp song hành của hai sắc thái chính trị và văn hóa như trình bày, mà xu hướng thế giới trong vài thập niên qua là chuyển từ chủ nghĩa quốc gia phát triển (developmental nationalism) sang chủ nghĩa quốc gia văn hóa (cultural nationalism) trong diễn biến động lực học tái cấu trúc (dynamics of restructuring). GS Lương Văn Hy sinh ở Hà Nội, lớn lên ở Sài Gòn, cựu học sinh Petrus Ký, du học Mỹ từ 1971 theo ngành nhân học, cử nhân Berkeley năm 1974 và tiến sĩ Harward năm 1981. Từ thập niên 1990 dạy ở đại học Toronto, Canada và có nhiều đóng góp cho khoa nhân học tại đại học KHXHNV tp.HCM, được đại học quốc gia tp.HCM phong Giáo sư danh dự năm 2006.

[3] Giải pháp phân loại giới trí thức được Claire Sutherland áp dụng để phân tích lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20, như trong bài viết Chiến trường khái niệm: chủ nghĩa quốc gia của Việt Nam trong thế kỷ 20 (Conceptual combat: Twentieth century Vietnamese nationalism) in trong tập 2 của bộ sách Nationalism: Across the Globe do Cao đẳng báo chí và các ngành nhân văn ở Poznan, Ba Lan xuất bản năm 2005. Bài viết giải thích rõ hơn về ba dạng tri thức mà A.D. Smith đã phác thảo trong tập sách xuất bản năm 1981, rằng “nhóm tân cổ điển (neo-traditionalist) muốn tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật nhưng không kèm theo hệ thống triết học của nó, đơn giản là dùng các phương pháp hiện đại để đạt mục tiêu truyền thống và tôn giáo. Nhóm đồng hóa (assimilationist) thì lại hết lòng tiếp nhận tư duy hợp lý (rationalism) và khoa học cùng với các mục tiêu hiện đại hóa phổ biến. Theo thời gian khi tham vọng của họ ở xã hội phương Tây phát triển mà họ ngưỡng mộ không thành và khoảng cách lớn giữa các truyền thống cộng đồng khác biệt trở nên rõ ràng, thì họ không còn lựa chọn nào khác hơn là tự giới hạn với quê nhà. Cuối cùng là nhóm cải tổ (reformist – theo hướng triệt để radicalism) muốn hiện đại hóa tôn giáo bằng cách bỏ bớt các phát triển không hay, cùng với lòng tin của họ trong cả hệ thống thần thánh và nhà nước khoa học như ’chính danh đôi’ nguồn song hành của chính quyền trong thế giới hiện đại” (trích dịch từ bài viết đã dẫn của Sutherland, trang 327). Theo đó lực lượng Việt Minh và Hồ Chí Minh có thể được xếp vào nhóm cổ xúy đồng hóa với phương Tây theo phân loại của Smith, hiệu quả hơn các nhóm tương tự như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Nguyễn An Ninh. Các giáo phái Phật giáo nam bộ thì mang nhiều dáng dấp của tư tưởng tân cổ điển, cũng giống như các nhóm ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại sau thế hệ đầu tiên của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, và phần nào là cả Phạm Quỳnh nữa. TS Clair Sutherland dạy ở đại học Durham, Anh quốc, từng có 2 năm sống ở Việt Nam để nghiên cứu và viết luận văn. Cuốn sách mới nhất của cô so sánh quá trình thống nhất đất nước của Việt Nam và Đức Soldered states: nation-building in Germany and Vietnam được NXB đại học Manchester xuất bản năm 2010.

[4] Các con đường hình thành quốc gia (nation formation) khái quát từ các trường hợp châu Âu được Stein Tonnesson thử nghiệm với các nước châu Á và phát hiện thêm một trường hợp bổ sung, là con đường “giai cấp”, như trong bài giảng ngày 14.IV.2008 tại đại học LSE, in lại trên tạp chí Nations and Nationalism số 15(3) 2009, trang 375-395: The class route to nationhood: China, Vietnam, Norway, Cyprus – and France. Smith đưa ra hai con đường chủ yếu hình thành quốc gia là dân tộc (ethnic) và dân sự (civic), cùng với một loại hình nữa gọi là đa sắc (plural). Con đường đi đến quốc gia hiện đại của Việt Nam và Trung Quốc không khớp với mô hình dân tộc, lẫn dân sự, hay cả đa sắc, và có thể mô tả như là con đường giai cấp, khá giống với diễn biến ở Na Uy và Síp. GS Stein Tonnesson là giám đốc Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế (PRIO) ở Osla, Na Uy, từng biên tập bộ sách khảo sát các dạng thức quốc gia châu A (Asian Forms of the Nation) do Curzon xuất bản năm 1996, nhận định lý thuyết của A.D. Smith hợp với Việt Nam hơn Benedict Anderson (trang 13).

Monday, January 24, 2011

Warszawa than yeu

Warszawa Thân Yêu

Bài giới thiệu trên SGGP



“Warszawa thân yêu” : đọc như khi đi trên hai con đường

by Pham Lan Phuong on Monday, 24 January 2011 at 19:33

Một tập sách mỏng nhẹ kể về một thành phố, rộng hơn một xíu là kể về đất nước của thành phố ấy. Ba Lan của Lê Thanh Hải từ 20 năm trước đến tận bây giờ vừa trôi đi theo từng tích tắc, vừa đọng chậm rãi như thể vài trăm năm đóng khối cả trong dáng dấp những thành quách đã sụp đổ được xây chồng lên bởi những công trình mới mẻ và hiện đại.

Tác giả viết về những điều be bé, rồi từ đó ngước nhìn lên hoặc nheo mắt nhìn sâu hơn. Anh nhẩn nha gặm ổ bánh mì đen, nhai xúc xích Kraków với dưa chuột muối giòn tan trên một chuyến bay giá rẻ từ London về Warszawa. Rồi cứ thế, anh nhớ từ bữa ăn thuở sinh viên, dở khóc dở cười với mớ rau muống 10USD, với chuyến bay từ thời Liên Xô có khách sạn transit miễn phí mà lính gác lăm le ở ngoài. Những kí ức chắc là cũng thảnh thơi tuôn ra đầu ngọn bút khi món dưa chuột vơi dần với chiếc xúc xích. Sành sỏi. 20 năm đủ để một người viết như anh sành sỏi từng cảm giác và hơi thở của vùng đất mình sống và lao động.Ấy thế mà những câu chuyện kể lại bây giờ, từ thuở đi học, đi làm xa thật xa quê nhà, có vẻ vẫn làm anh bối rối và ngơ ngác như cậu học trò trẻ lạ nước lạ người.

Anh nhận biết Warszawa và cả Ba Lan qua những tờ tạp chí rẻ tiền, nhàu nát thay cho những chồng báo nóng hổi mời hành khách đi máy bay khi nền kinh tế gặp khó khăn. Anh biết những chiếc xe bus đêm với “ba phút náo loạn” khi hành khách nhốn nháo chuyển xe. Và sau đó thành phố lại chìm vào ngọn đèn vàng le lói của đêm tĩnh lặng. Anh ghi nhớ chuyện một người thầy triết học phải nghĩ ra cách chở sách Mác-xít từ Áo về Đông Đức về để bán kiếm ít chênh lệch nuôi sống gia đình. Anh kể say mê. 60 trang giấy say mê. Ba Lan thở từng nhịp nhẹ thật nhẹ, yên thật yên, từ khi tiếng máy bay vít gió ùa lên cao cho đến miếng bánh mì thơm, bó hoa chuông và những tinh thể tuyết mùa đông. Warszawa trong 60 trang ngắn gọn và hiền lành, nơi người đọc có thể kịp gật gù thấy có lí vì sao một anh chàng xa lạ bỗng nhiên mà trở thành đứa con ruột rà đến thế của đất nước này. Kỉ niệm 20 năm chung sống, tác giả thú nhận tình yêu say đắm của mình cho thành phố ấy của anh.

Và trên một con đường song song của cảm giác ngọt ngào, tác giả gạch chân ngang các trang sách, gắn những con số chú dẫn vào những từ bất thần. Anh giải thích về những câu chuyện, ghi chú chi tiết những trang web, giá vé, con đường, dịch vụ, nét đặc sắc... tỉnh táo như một tay viết sách hướng dẫn du lịch cho những người lạ. Các chi tiết gọi các con đường về. Hẳn một người đọc thèm đi sẽ nghĩ ngay ra cách lần theo dấu chân mà Lê Thanh Hải có ý để chừa sẵn trên từng dòng của trang sách để đến được với Warszawa và Ba Lan xinh đẹp của anh. Thỉnh thoảng, giữa những phân tích tỉnh táo và cặn kẽ, anh vô ý chen ngang như ko kìm nén được “...tôi bỗng nhớ Warszawa da diết, và chợt nhận ra mình đã yêu Warszawa từ lâu lắm rồi, đã sống trong mối tình của chàng Wars cùng nàng Sawa được 20 năm rồi.”

Nếu ai đọc “Warszawa thân yêu”, xin hãy đọc câu chuyện tâm tình ấy như thể khi ta đi cùng tác giả trên 2 con đường song song, một đại lộ thênh thang những tri thức và đầy ắp sôi nổi, đầy những hướng dẫn cặn kẽ và chi tiết sống động; một là con đường làng bé nhỏ tấp về miền kí ức trìu mến và thân thuộc của 20 năm sống và yêu thương đất nước Ba Lan. Khi anh cất lời: “chỉ cần bạn khẽ gọi thôi, là tôi sẽ bay ngay về Warszawa để đưa bạn đi xem danh thắng, kể bạn nghe những câu chuyện lịch sử, và mời bạn thưởng thức những món Ba Lan,...”, hẳn anh đã đợi chờ thật nhiều đồng cảm từ người lần giở những trang anh viết.

Khải Đơn

(PS: Cảm ơn sách và những câu chuyện từ 1 thành phố xa lạ ạ!)


http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/433508/Doc-nhu-o-tren-hai-con-duong.html

Đọc như ở trên hai con đường

TT - Một tập sách mỏng nhẹ kể về một thành phố, rộng hơn một xíu là kể về đất nước của thành phố ấy. Ðó là Warszawa của Lê Thanh Hải từ 20 năm trước đến tận bây giờ.

Sách do NXB Văn Hóa - Văn Nghệ ấn hành

Tác giả viết về những điều be bé, rồi từ đó ngước nhìn lên hoặc nheo mắt nhìn sâu hơn. Anh nhẩn nha gặm ổ bánh mì đen, nhai xúc xích Kraków với dưa chuột muối giòn tan trên một chuyến bay giá rẻ từ London về Warszawa. Rồi cứ thế, những ký ức tuôn ra đầu ngọn bút khi món dưa chuột vơi dần với chiếc xúc xích.

20 năm đủ để một người viết như anh sành sỏi từng cảm giác và hơi thở của vùng đất mình sống và lao động. Ấy thế mà những câu chuyện kể lại bây giờ, từ thuở đi học, đi làm xa thật xa quê nhà có vẻ vẫn làm anh bối rối và ngơ ngác như cậu học trò trẻ lạ nước lạ người.

Và trên một con đường song song của cảm giác ngọt ngào, tác giả giải thích về những câu chuyện, ghi chú chi tiết những trang web, giá vé, con đường, dịch vụ, nét đặc sắc... tỉnh táo như một tay viết sách hướng dẫn du lịch cho người lạ.

Các chi tiết gọi các con đường về. Hẳn một người đọc thèm đi sẽ nghĩ ngay ra cách lần theo dấu chân mà Lê Thanh Hải có ý chừa sẵn trên trang sách để đến được với Warszawa và Ba Lan xinh đẹp của anh. Thỉnh thoảng, giữa những phân tích tỉnh táo và cặn kẽ, anh vô ý chen ngang như không kìm nén được: "... Tôi bỗng nhớ Warszawa da diết và chợt nhận ra mình đã yêu Warszawa từ lâu lắm rồi, đã sống trong mối tình của chàng Wars cùng nàng Sawa được 20 năm rồi".

Nếu ai đọc Warszawa thân yêu xin hãy đọc câu chuyện tâm tình ấy như thể khi ta đi cùng tác giả trên hai con đường song song, một đại lộ thênh thang những tri thức và đầy ắp sôi nổi, đầy những hướng dẫn cặn kẽ, sống động; một là con đường làng bé nhỏ tấp về miền ký ức trìu mến và thân thuộc của 20 năm sống và yêu thương đất nước Ba Lan.

Khi anh cất lời: "Chỉ cần bạn khẽ gọi thôi là tôi sẽ bay ngay về Warszawa để đưa bạn đi xem danh thắng, kể bạn nghe những câu chuyện lịch sử và mời bạn thưởng thức những món Ba Lan...", hẳn anh đã đợi chờ thật nhiều đồng cảm từ người lần giở những trang viết.

LAN PHƯƠNG


http://menam0.multiply.com/journal/item/434/434

http://www.facebook.com/?ref=home#!/notes/me-nam/di-den-warszawa/10150096110922207


ĐI ĐẾN WARSZAWA.
by Mẹ Nấm on Sunday, 06 February 2011 at 13:52
Tôi đọc đi đọc lại “Warszawa thân yêu” của tác giả Lê Thanh Hải trong những ngày nghỉ Tết như một cách tự thưởng cho mình chuyến du lịch đến Ba Lan trong tinh thần, bởi thực sự ngay ở lần đọc đầu tiên tôi đã ước mình có thể vác ba lô lên để đi đến Warszawa ngay khi có thể.
Tận tình, tẩn mẩn và chi tiết, tác giả đã hoàn thành khá xuất sắc vai trò “guide book” của mình.
Và là một người làm du lịch, tôi phải thừa nhận là mình ghét tác giả Lê Thanh Hải, bởi cách anh viết và dẫn dắt người đọc đến với Warsaw (tên tiếng Anh của thủ đô của Ba Lan) khiến cho những người hướng dẫn viên du lịch có thể mất việc như chơi.
Tôi dám cá rằng, nếu bạn có ý định tham quan thủ đô Ba Lan lúc này, có thể bạn chỉ cần nắm trong tay bản đồ thành phố và quyển “Warszawa thân yêu”, bạn hẳn sẽ có những trải nghiệm thú vị dù chỉ mới đặt chân đến nơi đây lần đầu.
Điều níu giữ tôi ở lại với quyển sách, không chỉ là các “mánh lẻ” cần phải có khi đi du lịch (nhất là du lịch bụi), các chỉ dẫn và kiến thức về một vùng đất, mà còn là trải nghiệm, cảm nhận và tình yêu của tác giả đối với Warszawa.
Đọc về Ba Lan, và nghĩ về Việt Nam, bởi nó lẩn quẩn ở đâu đó trong trang sách tâm tư và nỗi niềm của một người Việt có điều kiện đi học, làm việc, và sinh sống ở một đất nước khác.
Trong hơn 59 trang sách, tác giả chia ra làm 5 chủ đề khác nhau để giới thiệu về Warszawa. Và trong từng phần nhỏ ấy, bạn hãy đọc thật chậm, thật kỹ các câu chuyện và trải nghiệm của chính tác giả, để nhận ra rằng “Trời ơi, sao lại giống nhau đến vậy?”. Chỉ khác có một điều, Ba Lan đã thay đổi theo chiều hướng tích cực và giữ lại cho mình nét duyên dáng, cổ kính cần thiết – còn Việt Nam thì không.
Tôi đặc biệt khuyến cáo các bạn, không nên đọc mục số 3 “Sekacz, Chleb và Flaki” khi đang đói, bởi bạn sẽ có cảm giác thèm ăn tức thì. Lúc đọc đến đoạn này, tôi đã nghĩ, hẳn Lê Thanh Hải phải là một ông nội trợ tuyệt vời và hẳn là anh phải có năng khiếu về ẩm thực. (He he)
Điều phàn nàn duy nhất (đối với cách trình bày của quyển sách) ngoài sự ghen tị vì bị “lấn sân” ở lĩnh vực du lịch mà tôi đã nói ở phần mở đầu của entry này đó là các chú giải trong sách đôi khi khiến tôi thấy giận vì giống như mình bị chen ngang khi đang cố tìm cách tiếp cận người yêu. Nhiều lúc đang ngấu nghiến lấy con chữ theo mạch sách, thì phải liếc luôn xuống dưới để đọc chú giải (bởi tôi có cái tật là không bỏ sót một chữ nào trong một trang sách).
Ở đoạn cuối của tập sách nhỏ, khi đọc đến đoạn “tôi bỗng muốn một lần nữa thăm lại tất cả những nơi mình vừa kể. Biết hết rồi, chắc không còn gì để xem, nhưng vẫn muốn gần, vẫn thèm ôm lấy như người yêu từ mối tình đầu tuyệt đẹp”, tôi lại nghĩ rằng, với tác giả, Warszawa không chỉ là người yêu mà còn là một mối tình tri kỷ mới khiến anh có thể hiểu và yêu vùng đất mình đã từng ở như vậy.
Ba Lan nói chung – Warszawa nói riêng hẳn phải cảm ơn tác giả vì đưa thủ đô Ba Lan đến thật gần với người đọc qua tập sách này.
Bạn có “ghét” Lê Thanh Hải giống tôi không? Hãy cầm “Warszawa thân yêu” lên rồi “ném đá” đi nhá!
He he!

http://blogtamphan.multiply.com/reviews/item/23

http://www.facebook.com/?ref=home#!/note.php?note_id=182127558494565


Warszawa thân yêu - không chỉ là một cuốn sách
by Tam Phan on Thursday, 27 January 2011 at 13:21
Mặc dù tác giả Lê Thanh Hải gọi đây là một cuốn sách du ký nhưng sau khi đọc xong tôi khẳng định nó còn hơn thế rất nhiều. Một cuốn sách du ký làm gì có những yêu thương nhiều đến vậy, một cuốn sách du ký không những chỉ giới thiệu các địa danh mà còn gắn với những kỷ niệm vui buồn cá nhân người viết, còn đưa ra những liên kết gắn bó các sự kiện với nhau mà vượt ra cả thời gian, không gian và địa lý.

Nó như mở rộng 1 cánh cửa cho ta nhìn thấy một bầu trời kiến thức bao la, thấy Thế giới này xoay vần, sự vật thay đổi nhưng đều tựu chung về 1 quĩ đạo. Để viết ra được một cuốn sách như thế người viết phải là một người từng trải, đi nhiều, đọc nhiều, hiểu nhiều mới khiến cho người đọc rưng rưng xúc động về những sự kiện lịch sử mà có lẽ sẽ chỉ là thoảng qua trên mặt báo.

Đọc xong tôi đã có thể thấy "Warszawa thân yêu" như là một người tình mà anh (tác giả) hằng nâng niu ấp ủ. Một người tình mà anh có thể kể tường tận mọi chi tiết ngóc ngách lịch sử, lý giải từng sự kiện diễn ra trong vòng 20 năm nay một cách rành rọt nhất. Nó thật không đơn giản là 1 cuốn sách, đó là 1 kho kiến thức và tình yêu khổng lồ từ một nhân chứng lịch sử đã từng một thời sống ở Đông Âu thời kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa.

Giới trẻ ngày hôm nay phải cám ơn anh đã cho họ 1 góc nhìn về 1 quá khứ, không phải là "ôn nghèo kể khổ" mà mở rộng tấm lòng trân trọng những gì đã qua, tự hào vì những gì ta có được ngày hôm nay.

Một cuốn sách mỏng nhưng giá trị có thể ngang bằng bao nhiêu năm ngồi ghế nhà trường học lịch sử. Hơn thế, nó còn hay như một cuốn tiểu thuyết - có vui, có buồn, có ngang trái mà khiến ta khi đã cầm sách lên không thể một lần đặt xuống.

Tâm Phan
GVA 27/1/2011

http://www.facebook.com/?ref=home#!/note.php?note_id=10150101884688641


Đọc “Warszawa thân yêu” và nghĩ về những chuyến đi...
by Nguyen Thanh Thuy on Thursday, 27 January 2011 at 20:09
Đọc “Warszawa thân yêu” và nghĩ về những chuyến đi...

Thật sự không biết bắt đầu từ đâu để nói về một quyển sách du ký “Warszawa thân yêu” (Lê Thanh Hải) tôi vừa đọc. Nội dung quyển sách gợi cho tôi nghĩ về nhiều điều cùng một lúc và nó bắt đầu rối tinh lên.

Tôi bắt đầu nghĩ nó là một quyển Lonely Planet hay Let’s go rút gọn với những thông tin cơ bản, nhưng không chỉ có thế. Anh kể về những dấu ấn lịch sử và sự liên hệ đến những thay đổi không ngừng trong xã hội hiện tại ở Ba Lan, và có cả sự liên hệ thú vị đến Anh và Việt Nam. Tôi tò mò về tất cả những gì anh viết trong quyển sách, từ bản Nortune của Chopin mà từ lâu tôi không nghe, đến chuyện nho và rượu, rồi thì là chuyện chuyên gia phục chế di tích ở Ba Lan, và đến chuyện kinh tế Đông Âu,... cũng có cả những chuyện nho nhỏ về cuộc sống. Tôi bắt đầu lan man rồi đây . 60 trang sách nhỏ nhưng thật sự gợi cho tôi tò mò về rất nhiều điều về nhiều lĩnh vực mà điều gì anh cũng thông thạo và liên kết nó thành một mạch làm tôi muốn đọc đến tận cùng.

Và cuối cùng là tôi nghĩ về cách đi du lịch của tôi và các bạn xung quanh tôi.

Cứ mỗi lần sắp xếp những chuyến đi chơi xa, khi thì là đi nghỉ ngơi, khi thì là đi khám phá một nơi nào đó, khi thì đi vì tò mò, nói chung là muôn vàn lý do để đi đâu đó, tôi luôn băn khoăn về những quyển sách tôi sẽ đem theo. Lần này cũng vậy (12 tiếng nữa bay đi Myanmar), lướt qua những quyển sách chưa đọc để xem nên đem theo quyển nào: Xin cạch đàn ông, Onkel yêu dấu, Cafe Hàng Hành, Cơn mơ trong tuyết, ... Và bây giờ thì ước gì có một quyển sách du ký về Myanmar nhỉ !!!

http://www.tienphong.vn/Van-Hoa/527331/Warszawa-than-yeu-Sach-du-ky-dau-tien-o-VN.html

Văn hoá
17:45 09/02/2011
Warszawa thân yêu: Sách du ký đầu tiên ở VN
TPO - Sau thành công của cuốn tiểu thuyết Cơn mơ trong tuyết, viết về một giai đoạn của người Việt tại Ba Lan, tác giả Lê Thanh Hải tiếp tục chơi với cuộc thử nghiệm mới: Warszawa thân yêu.
Bìa cuốn sách
Giống như tác phẩm Historia của Herodotus từ 2500 trước, hay các bộ sách du lịch của Lonely Planet thời đương đại, Warszawa thân yêu (Vacsava - thủ đô của Ba Lan) được viết như một thể loại sách du ký - travelogue, vốn phổ biến ở phương Tây nhưng đây có lẽ là cuốn đầu tiên tại Việt Nam.
Đây cũng là những trải nghiệm chủ quan của cá nhân tác giả. Nó thực hơn tiểu thuyết một chút, nhưng vẫn còn rất nhiều điều người đọc chưa kiểm chứng, và chỉ nghe kể. Nhưng chính nhờ thực hơn mà nó có thể chuyển tải nhiều suy nghĩ cá nhân hơn.
"Tôi viết cuốn này là tưởng chỉ viết về Ba Lan, viết cho người đi du lịch Ba Lan (có sẵn bản đồ, địa chỉ liên lạc) nhưng thực ra, là viết về Việt Nam, để người Việt Nam đọc, nhìn đất nước Ba Lan và suy nghĩ về dân tộc mình, về chính bản thân mình, về bản sắc. Bản sắc không phải chỉ là vật thể, hay phi vật thể, mà là một con đường mà mỗi người đi qua", tác giả chia sẻ.
Tác giả ngồi dưới chân tượng Chopin tại Ba Lan - Ảnh: Lê Hoàng Hoa, đạo diễn Ván bài lật ngửa
Cuốn sách này, tác giả Thanh Hải đã chia sẻ về những con đường anh đã đi, con đường hiện tại và hồi tưởng về con đường quá khứ, so sánh, đối chiếu, tìm ra bản sắc cho bản thân mình. Tác giả cũng nói thêm rằng, anh viết cuốn này còn có thêm một ý nữa, là muốn có nhiều người khác cũng viết giống như vậy về các miền đất mà họ đã sống, đã đi qua để đem kiến thức về cho độc giả ở VN.
Sau ba cuốn sách đã phát hành tại Việt Nam, tác giả luôn cho thấy một cách diễn đạt tràn đầy hơi thở cuộc sống mà vẫn là những kiến thức tiện ích, giá trị.
Không chỉ dừng lại ở Ba Lan, trong thời gian tới, tác giả Lê Thanh Hải sẽ tiếp tục với các miền đất mà anh đã từng sống và đi qua như nước Anh, Thái Lan...và Việt Nam.
Tác giả Lê Thanh Hải, sinh ngày 9/12/1971 tại Hà Nội, du học sinh tại Ba Lan, hiện sống và làm việc tại Luân đôn.
Thạc sĩ Tự động học, Quản trị kinh doanh và Nhân học.
Các cuốn sách đã phát hành tại VN: Tiểu thuyết Cơn mơ trong tuyết, sách khoa học Khảo cổ bình dân Nam Bộ (đồng tác giả với tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu) và sách du ký Warszawa thân yêu
Ngọc Đinh



Một TS sử học

Các bài viết [review trước] rất hay, câu chữ rất đẹp, nhưng dường như những ngôn từ đẹp đẽ đó là tình cảm và hiểu biết của người viết dành cho tác giả và về tác giả mà chưa thấy được tầm tư duy của tác giả thể hiện qua cách đặt tên và bố cục các chương sách. Riêng tôi, tôi cho rằng điểm hay nhất của cuốn sách thể hiện trình độ của tác giả - một trình độ về lý thuyết và phương pháp tư duy mà không phải người viết nào cũng có được- chính là cách đặt tên và sắp xếp các chương mục của cuốn sách. Cuốn sách được chia làm 5 chương , tạo nên một Narrative hoàn chỉnh. Ở chương 1 với “những chuyến bay sáng “bạn sẽ đến với Varszawa. Đến Varszawa rồi bạn sẽ đươc khám phá Varszawa qua những chuyến " xe buyt" ( chương 2), qua những món ăn, nguồn thực phẩm ( chợ)- ( chương 3- Sekacz, Chleb và Flaki) nơi thể hiện đầy đủ mọi sắc thái văn hóa, kinh tế của một vùng đất... Chọn các món ăn và chợ làm một chương trọng tâm của cuốn sách, tác giả đã tỏ ra “khá sành sỏi” hay nói cách khác là một sự am hiểu sâu sắc. Thật rõ ràng là món ăn không chỉ là món ăn mà ở món ăn có thể hội tụ đầy đủ các yếu tố văn hóa , kinh tế, vừa là văn hóa vật thể vừa là văn hóa phi vật thể và ngòi bút của tác giả khi” kể “ về những điều này đã thể hiện tác giả không chỉ am hiểu lý thuyết về văn hóa mà còn là người từng trải, “sành điệu” trong thực tế. Chương 4 “ Chở củi về rừng” đã đưa bạn vượt khỏi 1 cuốn sách hướng dẫn du lịch, du ký, hồi ký - một cuốn sách cung cấp thông tin và kiến thức thông thường để bạn đến với những suy tư, trăn trở cao hơn và có trách nhiệm hơn, đặc biệt là vai trò của giới trí thức trước vấn đề giữ gìn bản sắc trong thời đại " toàn cầu" hóa (chương 5- Làng toàn cầu) hiện nay qua trường hợp Varszawa và Ba Lan trong lịch sử và hiện tại. Trong toàn bộ cuốn sách lịch sử và hiện tại luôn song hành, hòa quyện vào nhau, Varszawa, Ba Lan và Việt Nam luôn được đặt trong sự tương tác với một “thế giới phẳng” là điểm thu hút người đọc không thể dừng lại giữa chừng. Ngoài ra, cách đặt tên các chương sách của tác giả còn thể hiện tính hiện đại trong việc cấu trúc các chương sách, đó là đặt Varszawa trong chiều trọn vẹn của thời gian và không gian: từ những chuyến bay "sáng" cho tới chuyến xe " đêm" và trong không gian của một " Làng toàn cầu".

Tuy nhiên điều đáng tiếc ở cuốn sách này là với một cấu trúc sách hay như vậy, với một văn phong dễ đọc của một nhà báo lâu năm, đôi chỗ có tính hàn lâm của một người nghiên cứu xã hội học và triết học được đào tạo khá bài bản, với một sự từng trải của 20 năm lăn lộn, gắn bó, yêu thương Varszawa, nhưng đã không được khai thác đẩy lên cao hơn , sâu hơn, dày dặn hơn mà chỉ dừng lại như tác giả tự nhận là " Một ít tôi, một ít cảnh, một ít người, vài đoạn tả, vài đoạn văn, vài đoạn triết"... Và chính vì thế gây cho tôi một chút băn khoăn: 20 năm yêu Varszawa đến vậy mà chỉ "mỏng và nhẹ" thế thôi sao?"

Tuesday, August 17, 2010

Lý thuyết cho khảo cổ học VN

Sách mới, nhưng vì bài viết thuộc bản quyền của NXB Tổng hợp nên không thể cho lên đây, bà con chịu khó mua sách đọc. Các em sinh viên thực sự muốn đọc nhưng không đủ điều kiện tài chính thì có thể liên lạc, tui gửi sách tới tận nhà

http://www.nxbhcm.com.vn/bookdetail.aspx?idproductdetail=517

http://www.southeastasianarchaeology.com/2010/11/09/nam-bo-archaeology-archaeology-southern-vietnam/#more-3622

http://thethaovanhoa.vn/133N20100816083616683T0/tien-si-nguyen-thi-hau-nam-bo-hoan-toan-khong-moi-nhu-van-nghi.htm

http://www.phongluuqb.com/?tcm=news&view=detail&cat=10&id=242


http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoa/sinhhoatvanhoa/39625/


http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/398659/Khao-co-hoc-binh-dan-Nam-bo.html



Khảo cổ học bình dân Nam Bộ

Đặt cổ vật trong hệ tọa độ khoa học của liên ngành xã hội học và nhân văn là công trình mới được nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Hệ thống khái niệm và lý thuyết khảo cổ được các tác giả trình bày từ các bước đơn giản nhất để giới độc giả bình dân cũng có thể tiếp cận và tham gia bảo tồn di sản cổ sử. Khảo cổ học cộng đồng cũng đang là xu hướng phổ biến ở các nước phát triển và bắt đầu được ứng dụng ở một số nước trong vùng Đông Nam Á. “Khảo cổ học bình dân Nam Bộ” là quyển sách cần đọc cho những ai quan tâm đến đồ cổ, đặc biệt là các nhà sưu tầm và sinh viên các ngành có liên quan.

Mỗi cổ vật đều mang trong mình một câu chuyện lịch sử, và câu chuyện đó gắn kết với câu chuyện của người tìm thấy nó, mua bán nó, và câu chuyện của cộng đồng quanh nó, của xã hội và dân tộc đương đại đang lưu giữ nó. Nghiên cứu cổ vật cũng là quá trình nghiên cứu các mối quan hệ đó, được ghi lại qua nhật ký điền dã hoặc phát triển lên thành bài báo và báo cáo khoa học. Chính vì vậy mà bộ sách được bắt đầu bằng những tạp bút, tản văn về một vùng đất, về con người hay bút ký và nhật ký khảo cổ của TS Nguyễn Thị Hậu. Hệ thống di tích trải dài 5.000 năm ở vùng Nam Bộ được nối kết trong mối quan hệ không gian, thời gian và văn hóa để phác thảo hệ thống tư duy lý thuyết cho khu vực. Vấn đề thiếu lý thuyết đương đại trong nghiên cứu lịch sử đã được nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành nhắc nhở nhiều năm qua.

Trình bày tại hội thảo chuyên ngành khảo cổ Đông Nam Á được tổ chức tại đại học Oxford (London, Anh quốc) vào tháng Năm vừa qua, đồng tác giả của tập sách ThS Lê Thanh Hải cho biết đó cũng là vấn đề chung của các nước trong khu vực, là chỗ trống mà các nhà khảo cổ thực dân đã để lại. Khảo cổ đương đại trong vùng đang nằm giữa các tranh cãi vĩ mô quanh những giả thiết mà các nhà khảo cổ phương Tây từng đặt ra và nay học trò của họ tiếp tục theo đuổi. Cách xây dựng lý thuyết từ chính hệ thống cổ vật địa phương như trong công trình này giúp tránh mất thời gian cho các tranh luận cao siêu và cắm nền móng vững chắc trên chính những gì khảo cổ học ở Nam Bộ hiện có và đang tiếp tục xây dựng. Bình dân hóa khảo cổ từ ngay trong quá trình nghiên cứu cũng giúp tận dụng nguồn tài lực của các câu lạc bộ cổ vật và giới trí thức sống ở các địa phương cùng góp sức cho khoa học Việt Nam.

Thursday, August 12, 2010

Triết học đại học

Bàn về khái niệm Đại học từ góc độ triết học

Lê Hải dịch từ chương cuối của Marek J. Siemek 2002, Wolnosc, rozum, intersubiektywnosc, Oficyna Naukowa, Warszawa, Terminus 27.

Đại học và truyền thống

Có một điều dễ hiểu là các câu hỏi về hiện trạng của đại học và vị trí trong thế giới hiện đại và đặc biệt là trong châu Âu thống nhất, thường trước hết là chuyển về quá khứ. Với những câu hỏi kiểu như vậy không thể trả lời, thậm chí cũng khó có thể giải nghĩa mà không tái dựng khởi đầu lịch sử của các trường đại học, mà hầu hết cũng chính là lịch sử châu Âu theo đúng nghĩa của nó. Trên thực tế, nếu không có các trường đại học thì không thể nào hình dung ra nổi toàn bộ quá trình sinh ra và phát triển cái mà sau này tạo ra văn minh trung cổ Thiên Chúa Giáo (nhưng cũng không thể không kể phần đóng góp đáng kể của Hồi giáo - Ả Rập) như một thể thống nhất, là di sản chung của văn hóa và văn minh châu Âu. Điều đó có thể nghe thấy qua từ gốc tiếng La Tinh: universitas, như một cộng đồng tri thức, đào tạo và nghiên cứu khoa học được thể chế hóa từ đầu trở thành một trong số các yếu tố xây dựng và làm thành phần cho chính universitas - tức là những khái niệm, giá trị và tiêu chuẩn chung và phổ biến, phổ quát quan trọng, tạo ra bộ khung tinh thần cho châu Âu, trong thời gian vẫn còn hoàn toàn thống nhất về chính trị, tôn giáo và đạo đức.

Mạng lưới càng lúc càng dày đặc các trường cao học đầu tiên, mà trong thời gian trưởng thành của trung cổ đã trải dài từ Bologna, Padua, cho đến Oxford và Uppsala, từ Coimbra hay Salamanca đến Paris và Praha cùng Kraków, đã bằng sự thu hút và lan tỏa của mình tác động lên toàn lục địa. Nền tảng thống nhất về lòng tin và nhân sinh quan thiên chúa giáo, khi đó vẫn còn chưa khác biệt bên trong, cũng như phương tiện thống nhất về ngôn ngữ chung, mà lúc bấy giờ châu Âu vẫn chưa chia thành các quốc gia dân tộc, là tiếng Latin, là lingua franca không chỉ cho "cộng hòa sinh viên" ở khu vực hàn lâm, mà còn nói chung cho toàn bộ đời sống xã hội mà một cách cụ thể đã kéo theo là tạo dựng nên một cộng đồng đặc biệt theo kiểu của mình về thông tin dành cho tri thức. Cho nên từ thời trung cổ các trường đại học không chỉ là ví dụ điển hình cho cái mà hôm nay chúng ta gọi là "vòng tự do" của người, ý tưởng và thông tin, mà còn ảnh hưởng đáng kể đến quá trình những sự kiện quan trọng nhất về tri thức, văn hóa và chính trị toàn thế giới đó. Nói cách khác, nhắc đến lịch sử phát triển, các trường đại học chính là châu Âu.

Trường đại học và quá trình hiện đại hóa xã hội

Tất nhiên không cần nhắc lại, rằng thuyết phổ quát sơ khai như khi còn thống nhất chưa phân biệt (có thể coi như là tiền hiện đại) của châu Ấu thời trung cổ đã tan rã ngay bậc thềm thời đại tân kỳ chính là kết quả của quá trình hiện đại hóa. Bước ngoặt lịch sử này tìm thấy biểu hiện của mình kể cả trong những thay đổi sâu sắc, như là bản chất và chức năng của trường đại học đã trải qua. Nếu đúng là trường đại học trở thành thể chế duy nhứt của thế giới và cuộc sống trung cổ, mà cũng gộp luôn cả giai đoạn hiện đại, thì mặt khác tất nhiên là cũng có khả năng gộp luôn - chỉ trong điều kiện ứng dụng hoàn toàn - thể chế này vào các thực tại khác nhau của xã hội và văn hóa hiện đại. Điều rõ ràng là chúng ta không thể kết luận gì sâu hơn từ nội dung quá trình lịch sử đa dạng và phức tạp, mà chỉ có thể ngắn gọn và giản lược hóa rất nhiều, về một số quá trình lịch sử nhất định vốn thể hiện ra đặc biệt quan trọng nếu chú ý tới thay đổi về tính chât và chức năng trường đại học.

Đầu tiên, sự hình thành các nhà nước dân tộc (nation-state) ở châu Âu chắc chắn cần phải được công nhận là một trong số các tiến trình lịch sử quan trọng đó. Cùng với sự tan rã cộng đồng phổ quát thời trung cổ thiên chúa giáo - latin, phân ra thành những thể hữu cơ ít nhiều độc lập được tạo ra theo đúng nguyên tắc thống nhất dân tộc, với cuộc sống tri thức đã tạo ra chân trời hoàn toàn mới. Nhờ nhanh chóng nhân rộng các loại ngôn ngữ và văn chương dân tộc từ một phía, và cũng như tăng nhu cầu chính quyền nhà nước trung ương về kiến thức và năng lực chuyên gia đối với công chức nhà nước từ phía bên kia, đào tạo, cũng như kiến thức phổ thông và văn hóa, trở thành trước hết là nguồn tạo ra bản sắc văn hóa dân tộc mới, cùng với sự đoàn kết mang tính yêu nước của các công dân và trung thành với quốc gia của chính bản thân. Các trường đại học, cùng với toàn mạng lưới các cơ sở phục vụ giáo dục và đào tạo - nằm ở bề mặt, được nối kết vào khung thể chế đó của nhà nước dân tộc mới, và như là các điểm nối kết quan trọng cho toàn bộ hệ thống tổ chức của nó.

Thay vì cơ chế nhà thờ chỉ đạo như thời trung cổ, vốn đã bị dỡ bỏ nhờ Cải cách và thế tục hóa đời sống xã hội trong thời hiện đại, xuất hiện càng lúc càng nhiều các mối quan hệ dày đặc giữa các trường đại học và các cơ quan chính trị nhà nước, cũng như quyền lực tri thức - tức là khoa học và văn hóa.Với châu Âu thời hiện đại có thể nhìn quá trình này rất rõ. Qui luật ở đây là nhà nước từ những ngôi trường được thu nhận hoặc dựng lên ngày càng nhiều tạo ra trước hết là cơ sở đào tạo cho giới lãnh đạo của mình, vốn liên tục cần tái tạo để dùng trong rất nhiều cơ quan chức năng trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội vậy. Các "trường đại học" được Napoleon lập ra - như là Ecole Normale Supérieure và Ecole Nationale d'Administration ở Pháp hay Scuola Normale Superiore ở Ý - ở đây dù thực sự là những ví dụ giới hạn; nhưng chắc chắn mô tả xu hướng chung, chỉ ra ít nhất một hướng rõ ràng mà theo đó quan hệ giữa nhà nước hiện đại với trường đại học của nó sẽ đi theo.

Bên cạnh truyền thống grandes écoles của nước Pháp thời Napoleon, vai trò hàng đầu còn có mô hình Humbold của Đức, mà theo đó trường đại học giữ toàn quyền tự chủ của cộng đồng hàn lâm, đồng thời được đưa vào hệ thống cơ quan quan trọng nhất trong giáo dục và đào tạo, khoa học và chính trị văn hóa của quốc gia hiện đại. Chính sự bành trướng lâu dài và không ai thắc mắc về tri thức và thể chế của mô hình đó đã khiến cho, ít nhất là ở châu Âu lục địa - chắc chắn sẽ khác chút ở Anh, và sau đó là Hoa Kỳ - riêng chữ "đại học quốc gia" trở thành một hiện tượng bão hòa. Từ phía khác cũng thấy rõ là trong trường hợp các dân tộc mà phát triển văn hóa riêng và ý thức dân tộc đã đạt mức cao, nhưng do các bối cảnh chính trị lịch sử khác nhau mà chưa - hoặc vừa mất - không có nhà nước riêng, thì chính các trường đại học trở thành không chỉ là nơi quan trọng cất giữ cho văn hóa dân tộc và truyền thống, mà còn cả co sở chính cho tư tưởng lập quốc và hoạt động chính trị. Ví dụ cổ điển cho trường hợp này là ảnh hưởng độc lập và trước hết là lập quốc của các trường cao học Ba Lan như ở Kraków và Lwów trong hơn 100 năm mất nước cho đến tận sau 1918. Nhưng cần chú ý đặc biệt trong ngữ cảnh này về sự tham gia vĩ đại, như là quá trình chuẩn bị cơ sở cho độc lập quốc gia của Israel (1948) nhờ công của Đại học Hebrew ở Jerozolim trong thập niên 1920.

Kiến thức như là phần thực tại của thế giới hiện đại

Quá trình thị trường hóa và tư bản hóa kiến thức đó, đồng thời cùng với các trường đại học, tất nhiên đã và vẫn đem đến những lựa chọn tiêu cực trong khu vực con người và xã hội. Nhưng họ không thể có các bước tiến nhảy vọt như vậy, nếu không có đóng góp của kiến thức và giáo dục là kết quả từ sự nối kết không thể tách rời với các quá trình xã hội và hiện đại hóa kinh tế. Đào tạo đại học và năng lực chuyên môn trong thế giới hiện đại của chúng ta trở thành "hàng hóa" trao đổi và đối tượng thực hiện "dịch vụ" cũng như, mà cũng có thể là trước hết là vì, hiểu biết theo cách hiểu đó đã được kiến tạo sâu sắc trong cùng kết cấu đã được vật chất hóa giống như vậy, vào trong thực tại khách quan. Cùng đó chúng ta sang đến thành phần quan trọng thứ ba của quá trình hiện đại hóa ở châu Âu - quá trình mà đối với thay đổi về tính chất và chức năng trường đại học có ý nghĩa đặc biệt. Đó là "bước ngoặt Kopernik", đã được thực hiện cùng với sự sinh ra và phát triển khoa học hiện đại. Sự kiện lịch sử đó kéo theo không chỉ sự tan rã hoàn toàn của nhân sinh quan đồng nhất về thế giới của quyền lực Thiên Chúa giáo trung cổ, và không chỉ "giải thoát khỏi phép ảo thuật" một cách không còn xoay chuyển ngược lại được nữa cho toàn bộ thực tại, mà Max Weber từng nói trong phân tích bậc thầy của mình về sự lớn mạnh của thời hiện đại như quá trình logic hóa tư duy và hành động của con người.

Khoa học hiện đại, đặc biệt là môn nghiên cứu tự nhiên qua thí nghiệm và toán học, rất nhanh chóng tìm thấy con đường của mình quanh chỗ, mà thay vì "quyển sách vĩ đại về tự nhiên" - như Galileus từng muốn - chỉ là đọc, mà chính xác là từ tự nhiên này - lần này phù hợp với chỉ dẫn nổi tếng và chính xác của Kant - bàn luận về các luật phổ quát. Nhưng sự "áp đặt" đó, như đã thấy, không hề là và chưa bao giờ một cách tự nhiên là lý thuyết hoàn toàn. Ngược lại, trong khoa học hiện đại chỉ riêng việc nhận biết thế giới nhờ vào việc áp dụng ít nhiều trực tiếp quá trình bước sâu vào kết cấu vật chất của thế giới đó, gần như không giới hạn các phép sắp đặt sẵn có của thực nghiệm kỹ thuật. Hệ quả của việc một bên một bên là liên kết không tách rời với kỹ thuật, bên kia là nhân bản và tái tạo công nghiệp hàng loạt, khoa học ngay từ thế kỷ 19, nhưng với mức độ hoàn toàn trong thế kỷ 20, trở thành lực sáng tạo mạnh nhất của xã hội hiện đại.

Cũng như vậy, điều mà khoa học hôm nay cùng tạo ra một cách đáng kể, không còn là hình ảnh thế giới của chúng ta, mà còn, ở vị trí tiên phong, chính là thế giới của chúng ta. Đó cũng là điều mà các triết gia mô tả là thế giới con người của cuộc sống chúng ta, Lebenswelt: trải nghiệm từ cuộc sống thường ngày nhất của mỗi người trên mỗi bước vào kiến thức khoa học hiện đại đang xâm nhập và bão hòa, hiện diện khắp mọi nơi ngay cả qua dạng các sản phẩm kỹ thuật của nó. Nói cho cùng, quá trình khoa học hóa không thể xoay ngược của thế giới hiện đại ít nhất không chỉ giới hạn vào các mở rộng hữu cơ, phát triển nhảy cóc của khoa học tự nhiên cùng với các thành tựu ngày càng xa của khả năng ứng dụng kỹ thuật. Cuộc sống hiện đại cũng rất là, dù có thể bằng cách ít gây chú ý trong mắt hơn, được ghi dấu qua các kết quả khác nhau và các dạng thể hiện sự tự nhận biết của con người, như đã tập hợp trong khu vực rộng lớn của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Và ở đây không chỉ là kiến thức đặc biệt về chức năng và thể chế của xã hội hiện đại cùng với các hệ thống con liên kết rộng rãi trong kinh tế, luật pháp và tự lập chính trị. Cũng không kém phần quan trọng là các phác thảo khá rõ ràng trong tư duy phê phán nhận định về những sự hình thành được định chuẩn hóa của các cấu trúc đó, cơ chế và hệ thống, trên cơ sở đánh giá các nhận định về tầm ảnh hưởng phổ thông.

Chủ yếuở đây là loại hình mà trước hết là kiến thức đặc biệt giúp người ta nhận biết vị trí và hiểu, từ một phía tạo ra cho cuộc sống con người một ý nghĩa rành mạch nào đó giúp khả năng nắm bắt, từ phía kia kiểm tra mức độ xác thực về đạo đức và chính trị của loại hình thông tin hiện đại giữa người và người, cùng với hợp tác và chung sống.

Đào sâu và mở rộng vấn đề này một cách sâu rộng trong kiến thức ứng dụng về nhận biết và hiểu biết trong thế giới hôm nay trở thành một trong số các yêu cầu chủ yếu cho công tác nghiên cứu và đào tạo ở đại học. Các trường, hôm nay cũng như trước kia, ghi nhận những phương tiện cơ bản của quá trình khai sáng tư duy, mà thực chất là để tạo ra và chuyển giao nhận thức phê phán về con người hiện đại. Điềuđó trước hết có nghĩa là khả năng của con người đó trong việc tự do khẳng định trong tư duy và các hành động có trách nhiệm cùng với quyền không thể tách rời đối với quyết định chung mang tính dân chủ về tất cả các vấn đề quan trọng nhất liên quan đến quá trình chung sống với những người khác. Vì vậy sự khai sáng đương đại hậu thuẫn tư tưởng phổ quát mới - một lần nữa dùng khái niệm của Weber - "hợp lý phương Tây", cắm rễ trong đặc tính nhân bản của các quyền phổ quát của con người và công dân, cũng như coi là logic không thể tách rời và luân lý của xã hội văn minh hiện đại và cơ chế tự do dân chủ chính trị. Và chức năng phát ngôn này cho sự khai sáng đương đại, đặc biệt là trong các ngành xã hội mà nhân văn, như là vai trò mà đại học hôm nay đảm nhiệm, chính tắc hóa sự mở rộng sang vai trò dẫn dắt tri thức trong cuộc sống công cộng, cũng như trong khu vực chính trị.

Tất nhiên là trong vai trò mới này của các trường cao đẳng và đại học, như phương tiện phù hợp cho công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn, đạtđược nhiều hơn đến mức không thể đođược so với trước kia về ý nghĩa xã hội. Mặc dù đúng là mất không ít quyền tự chủ và uyển chuyển, khi càng lúc càng cùng phát triển mạnh với cấu trúc quyền lực chính trị và kinh tế, nhưng chính vì vậy mà hôm nay mở ra trước mắt cơ hội để có ảnh hưởng phù hợp và đáng kể đến hướng phát triển kinh tế và chính trị trong hiện tại và tương lai.

Saturday, April 24, 2010

A good Case for Study the public debate on Vietnamese national identity

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201017/20100424000843.aspx
















Tác giả Đỗ Ngọc Bích trả lời độc giả (BBC 20-4-10) -- Đọc bài này ("Gửi từ Hoa Kỳ" -- xin BBC giải thích tại sao không ghi "tiến sĩ", "Đại học Yale" nữa?) chỉ biết há hốc (jaw-dropping)! Có khi nào BBC đăng bài của David Irving (người phủ nhận Holocaust - việc hơn 6 triệu người gốc Do Thái bị thủ tiêu trong Thế Chiến II) "cho rộng đường dư luận" không nhỉ? (Chợt nghĩ: Qua vụ này, có vẻ như ông Đào Duy Quát đã sang làm cho BBC?)

Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc (BBC 17-4-10) -- Bài của TS (?) Đỗ Ngọc Bích. Phản biện của Đinh Kim Phúc: Thư ngỏ gửi vị tiến sĩ Đại hoc Yale (viet-studies 18-4-10) -- Phản biện của Hà Văn Thịnh: Không nên tranh luận với kẻ cố tình câm điếc! (Văn hoá Nghệ An 18-4-10) (Cập nhật: Viet-studies vừa được một thân hữu, giáo sư ở Yale, cho biết cô Đỗ Ngọc Bích không phải là một tiến sĩ thuộc trường Yale mà chỉ là một nghiên cứu sinh môn Hoa Kỳ học (American Studies) ở Đại học Hawaii. Hiện cô đang sống ở thành phố New Haven, nhưng không làm việc cho trường Yale. Giáo sư thân hữu này đã gửi thư cho BBC nhờ đính chính)◄




Trên từng cây số

Wednesday, March 10, 2010

Ma tran Ban Sac

Ma Trận Bản Sắc
Tim Edensor 2002, National Identity, Popular Culture and Everyday Life, Berg, Lê Hải trích dịch từ phần dẫn nhập trang 7-8, tiêu đề này do người dịch đặt.

Bản sắc dân tộc tiếp tục tồn tại trong thế giới đang được toàn cầu hóa, và có lẽ dân tộc vẫn tiếp tục là thự thể nổi bật mà bản sắc sẽ định hình trên đó. Trong quyển sách này, tôi muốn khảo sát mối quan hệ giữa bản săc dân tộc với văn hóa đại chúng và cuộc sống thường ngày. Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về chủ nghĩa dân tộc, rất ít công trình kiểm tra các góc cạnh thường nhật hơn của bản săc dân tộc. Các lý thuyết hiện hành về dân tộc quan tâm đến kinh tế chính trị và lịch sử, và các thành phần văn hóa dân tộc mà họ tiếp cận như là khu vực văn hóa thượng tầng, là các "truyền thống được tạo dựng" và lễ hội được đặt ra nhiều năm trước, hay là các biến thể của văn hóa dân gian. Các khái niệm văn hóa đã được vật thể hóa đó - dù chắc chắn vẫn còn tính thời sự - chỉ là một phần nhỏ trong ma trận văn hóa vây quanh dân tộc. Thú vị hơn, mặc dù Cultural Studies đã phát triển thành một ngành khoa học, ít ai thử đụng đến các biện pháp gần hơn, năng động và dễ tan biến hơn mà dân tộc được trải nghiệm và hiểu thông qua văn hóa đại chúng. Và đơn giản là những hành động lặp lại không được phản ánh, vốn là thói quen, thiếu được khảo sát trong cuộc sống thường ngày cũng tạo ra mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của bản sắc dân tộc. Do đó, sự thể hiện và trải nghiệm của bản sắc dân tộc thường không ngoạn mục hay gây chú ý, mà được tạo ra từ những hành động và dạng thức rất bình thường, dân dã [...]

Các sách hiện có về bản sắc dân tộc không đưa ra nhiều chỉ dẫn cho quá trình khám phá thế giới văn hóa đậm đặc và mờ ảo này, cho nên cần thiết phải áp dụng một tổ hợp các công cụ lý thuyết khác nhau. Tôi đã chọn một chỗi các ý tưởng xuất hiện gần đây trong hệ thống lý thuyết xã hội và văn hóa để tìm cách chứng tỏ rằng dân tộc vẫn là thành phần có thế lực của bản sắc, chính xác bởi vì nó đặt nền trên đại chúng và đời thường. Cho nên tôi dùng đến các góc nhìn lý thuyết đương đại từ các nghiên cứu về bản sắc, không gian, biểu diễn, văn hóa vật thể và thể hiện. Quyển sách này được tổ chức theo các chủ đề đó và, dù tôi không muốn tuyên bố rằng đó rõ ràng là các tâm điểm phù hợp để khám phá bản sắc dân tộc, tôi tin rằng chúng đưa ra một chuỗi các mối quan hệ hữu dụng cho phép coi bản sắc dân tộc là mang tính động, ganh đua, đa dạng và uyển chuyển. Quí vị có thể nghĩ rằng nếu đã thay đổi như vậy thì phải yếu. Tôi muốn nhấn mạnh sự thể không phải như vậy, và rằng sự đa dạng này, vô số các ảnh hưởng văn hóa, và các biểu tượng mềm dẻo của dân tộc sản sinh ra một lượng vô cùng lớn các tiềm năng văn hóa, không phải là một tập hợp đơn chết các ý tưởng mà tất cả mọi người phải gắn bó, mà là một khối lớn vô số các thành phần văn hóa đang sôi sục. Theo lẽ đó, tôi coi bản sắc dân tộc đực thiết lập từ một ma trận văn hóa rất lớn, bản thân tạo ra vô số điểm kết nối, tức là các nút mà các thế lực tìm cách chỉnh sửa ý nghĩa và các chuỗi kết dính các thành phần văn hóa. Cũng theo lối khai sinh này, văn hóa liên tục ở trong quá trình trở thành, hiện ra từ vận động của văn hóa đại chúng và cuộc sống hàng ngày, nơi người ta tạo ra và tái tạo các mối quan hệ giữa địa phương và dân tộc, giữa dân tộc và toàn cầu, giữa thường ngày và đặc biệt [...]

Cho nên, điểm tập trung của cuốn sách này sẽ là các phát biểu và trải nghiệm của bản sắc dân tộc - trong không gian đông đặc, vật chất, biểu diễn, gắn kết và thể hiện - liên kết với nhau chặt chẽ, tạo ra một sườn chất liệu văn hóa chung, gắn liền vào ma trận khổng lồ mà các cá nhân có thể truy cập để hiện thực hóa cảm giác gắn kết với dân tộc. Khi dùng khái niệm ẩn dụ về ma trận, tôi có thể nhấn mạnh đến sự phức hợp trong văn hóa của bản sắc dân tộc, và đề cập nhiều đến các quan hệ nhiều chiều vốn tồn tại giữa các thể loại văn hóa. Tôi cũng có thể hệ thống vô số kể những liên kết thể hiện bản sắc đang có sẵn trong ma trận đó, một ma trận mà một số nhánh tàn lụi, hồi phục, ghép nối hay mọc ra.

Quá trình liên tục diễn ra này ảnh hưởng lẫn nhau, củng cố bản chất tự nhiên của các phương pháp hiểu và thể hiện bản sắc dân tộc. Các liên kết đậm đặc giữa không gian, hành động, vật chất và loại hình thể hiện tạo ra cơ sở cho các ý niệm về bản chất và nhận thức về dân tộc: chọn lựa và phơi bày các đường nhánh trong nền đất bản sắc dân tộc đậm đặc là điều khó. Nhưng thực tế cho thấy là những ai tìm cách chỉnh sửa nội dung của tư tưởng dân tộc không thể kết hợp toàn bộ ma trận, mà họ cần phải tập trung vào một vài chiều biểu tượng chọn lựa phù hợp với mục tiêu mà thôi.

Tuy nhiên, vì bản sắc dân tộc khỏng chỉ là sản phẩm của ý nguyện và chiến lược, mà còn vướng vào trong những phương tiện vật chất được thể hiện mà chúng ta đang chung sống - trong thế giới muôn màu của các mô tả sâu như khái niệm mà Clifford Geertz từng đưa ra - nó đa phần nằm ngoài tầm với của giới chính khách và hoạt động xã hội, cùng các phong trào của họ. Điều này, tất nhiên, không phải để nói là các khẩu hiệu chính trị không vận động được dân chúng đấu tranh cho chính nghĩa - lịch sử đương đại thể hiện ngược lại - mà rằng sự phối hợp hoàn toàn của các mối quan hệ đó cho phép hi vọng sự gia tăng của các bản sắc dân tộc đa quốc gia sẽ đấu ngược lại với các phiên bản loại trừ và vật chất hóa. [...]

Thursday, March 4, 2010

Luoc Su Nhan Loai

Lược Sử Nhân Loại
Ernest Gellner, Lê Hải dịch

Bài dịch ra giấy từ 10 năm trước, dọn dẹp một ngăn kệ nên chịu khó chép từ từ lên đây vậy. Một chương trong quyển sách, sẽ tìm lại tên sau vậy. Các số là số thứ tự của các paragraph, bản gốc không có, tui điền vô để nhớ đã làm tới đâu.

Chương 3, A short history of mankind, trang 14-25, Ernest Gellner 1997, Nationalism, Weidenfeld&Nicolson.

1. Trong phần trước chún ta đã đề cập đến hai phạm trù cơ bản để dùng trong tiểu luận này là văn hóa và tổ chức. Mối quan hệ qua lại giữa hai thực thể này thay đổi rất triệt để theo bước đi của lịch sử loài người. Dưới đây là phác họa về các thời kỳ chính trong lịch sử nhân loại, phát xuất từ cách nhìn này.

2. Về cơ bản, loài người đã đi qua 3 thời kỳ: hái lượm, nông nghiệp, và xã hội khoa học công nghiệp. Vào thời kỳ hái lượm, các quần thể hay cộng đồng nhỏ không đủ lớn để nảy sinh ra vấn đề dân tộc. Các giao thoa tình cờ giữa các nhóm tạo thành dạng đa văn hóa, ngay cả đối với các quần thể nhỏ (Claude Lévi-Strauss đã ghi nhận một trường hợp như vậy ở vùng rừng Brazil). Nơi đó thường gặp các hiện tượng như là gặp gỡ văn hóa. Nói chung, nét tự nhiên sơ khai trong lãnh đạo chính trị, đi cùng với sự thiếu vắng của văn hóa "cao" (mã hóa, liên kết văn tự) đã không tạo điều kiện cho vấn đề quan hệ giữa chính trị và văn hóa - môi trường cho chủ nghĩa dân tộc phát triển - xuất hiện. Khi không có quốc gia lẫn nền giáo dục mang tính khuôn mẫu, thì vấn đề quốc gia phải chọn văn hóa nào cũng khó mà xuất hiện trong hệ thống giáo dục.

3. Sang đến giai đoạn tiền nông nghiệp thì chủ nghĩa dân tộc bắt đầu xuất hiện. Các xã hội tiền nông nghiệp phải đấu tranh sinh tồn trong một thế giới mới, tức là vị thế của một số dân quá ít (so với thời nông nghiệp hay công nghiệp), nhưng lại sở hữu một diện tích quá lớn. Khi đó có xu hướng là họ dễ bị các nhóm dân lạ tràn đến miền đất mà họ coi là nhà, cũng như xu hướng là họ gia nhập vào các khối chính trị lớn hơn do người khác lãnh đạo hoặc do nhóm sắc tộc lớn hơn chiếm ưu thế. Thông thường, vùng đất nơi họ săn bắn, đánh cá, hái lượm và sinh sống hay có tài nguyên thiên nhiên. Trong bối cảnh mới, có khi họ giành được ít nhiều quyền lợi với tư cách được công nhận là cư dân nguyên thủy. Nhưng cũng có khi họ bị tàn nhẫn gạt bỏ (như trong trường hợp dân Tuareg, khó mà đòi được gì từ các mỏ dầu ở Sahara - nơi họ từng chăn dắt lạc đà). Trong khả năng khủng khiếp hơn họ có thể bị tìm giết sạch bằng dịch bệnh chỉ vì người ta muốn rảnh tay khai thác tài nguyên thiên nhiên. Đây là vấn đề quan trọng và gây tranh cãi, tập trung không chỉ mối quan tâm nhân bản muốn ngăn chặn việc khai thác (và nhân tiện diệt chủng) các sắc dân yếu hơn, mà còn cả mối quan tâm của giới bảo tồn nhân chủng học để lưu lại vài mảnh vụn của "thế giới đã mất". Nhìn lại thì "chủ nghĩa dân tộc" trong bất kỳ dạng hiện đại nào cũng đều chưa hình thành ở người hái lượm, cả trong thời pre-Neolitic-Revolution, tức khi tất cả loài người chưa trải qua cuộc cách mạng đồ đá, lẫn cả giai đoạn sau này, khi người hái lượm vẫn còn sống sót trên các vùng đất biệt lập (ví dụ như Úc) hay ngoài rìa thế giới trồng trọt chăn nuôi. Nhưng bây giờ họ đã quan tâm đến chuyện đó. Những người đánh cá hay hái lượm ở vùng cực - cả tân lẫn cựu thế giới, đều đang tổ chức lại và áp dụng thuyết "dân tộc" để chống lại cái mà họi là thế lực xâm lấn Nga hay Québec.

4. Thời kỳ nông nghiệp thì có khác. Giai đoạn này ghi nhận mức tăng trưởng dân số quá mức, do con người biết sản xuất và tích trữ thực phẩm. Cũng chính khả năng này tạo điều kiện cho việc gia tăng phân hóa các tổ chức lao động và xã hội. Ngoài sự mở rộng các ngành nghề kinh tế, chẳng hạn như thợ thủ công và thương gia bặt đầu hiện diện trên danh sách lực lượng sản xuất nông nghiệp, còn xuất hiện thêm các thế lực được gọi là Đỏ và Đen: tức một bên là nhóm các nhóm dân mới chuyên về vũ lực và bạo động, còn bên kia là giới thuyết gia, lễ nghi, cứu trợ, giải tỏa tâm lý và thiền đạo tâm linh. Sự tập trung chính trị (nói cách khác tức là quốc gia) bắt đầu phổ biễn dần, và có nhiều khả năng từng là dạng thường gặp nhất. Tuy nhiên hình thức này chưa phải là hoàn toàn phổ biến trong xá hội nông nghiệp, vì có những hình thức chính phủ, thông qua các phân nhóm củng cố bằng nghi thức, tồn tại theo kiểu có thể coi là giữ cân bằng quyền lực bên trong xã hội. Có một thứ trở nên phổ biến là phân cấp tổ chức, có thể nói một cách tóm lược là thời đó quá trình phân hóa và phân cấp cùng vận hành song song.

5. Thể chế quốc gia hiện hữu trong thời kỳ nông nghiệp ở nhiều mức độ khác nhau với đa số các xã hội. Phân hóa văn hóa cũng tương tự như vậy. Vì thế đã xuất hiện câu hỏi về mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và văn hóa. Nói một cách khác, vấn đề của chủ nghĩa dân tộc bắt đầu xuất hiện. Và đây là điều kiện hoàn hảo cho ai đó muốn đưa ra lý thuyết cho rằng thể chế chính trị hợp pháp là thể chế chiếm được thiện cảm của tất cả mọi thành viên, và kèm theo là chỉ tất cả mọi thành viên từ cùng một văn hóa đã định. Nói một cách đơn giản tức là Ruritania cho người Ruritania; tất cả dân Ruritania hãy liên kết vì đất tổ linh thiêng; và không có ai khác ngoài người Ruritania được chiếm nhiều không gian trên đất thánh Ruritania, trừ một số nhỏ những người khách biết cư xử tốt, biết địa vị của họ là khách, và không nắm giữ những vị trí chiến lược.

6. Khi đó có đủ điều kiện để tạo nên một lý thuyết như vậy. Có đủ giải pháp để mô hình hóa. Câu hỏi dẫn đến liên kết với chủ nghĩa dân tộc, tức là vấn đề về tính hợp pháp của quyền hành và hệ thống chính trị vẫn chưa được biết đến. Khi người ta bắt đầu sử dụng chữ viết thì tư tưởng về văn hóa lưu trữ cùng các nguyên tắc của nó bắt đầuxuất hiện và phát tán qua giáo dục khuôn mẫu. Và trên lý thuyết thì đã đủ điều kiện để tạo thành người theo chủ thuyết dân tộc. Thế nhưng họ lại không nổi bật, dù không hoàn toàn thiếu vắng, và ảnh hưởng rất lớn. Tại sao?

7. Xã hội nông nghiệp dựa trên mô hình sản xuất và lưu trữ lương thực, trên cơ sở kỹ thuật khá ổn định. Đây có thể được coi là định nghĩa khái quát về xã hội nông nghiệp. Giai đoạn này, như đã trình bày, có sự phân chia giữa xã hội được quốc gia hóa và xã hội vô quốc gia. Ngoài ra còn có một phân chia quan trọng nữa là giữa xã hội mù chữ và xã hội sử dụng ký tự. Loại thứ hai này lưu trữ không chỉ lợi tức mà còn cả tư tưởng nữa. Hay nói cách khác họ được trang bị kỹ thuật hùng mạnh để lưu trữ tư tưởng. Ngay cả trong trường hợp không viết xuống thì xã hội cũng có thể "làm đông lạnh" tư tưởng hay chí ít cũng là những câu cú qua lễ nghi thần chú - tạo thành tập hợp và trở thành tiêu chuẩn.

8. Trong xã hội nông nghiệp, sự bất biến của kỹ thuật - hay nói cách khác là tình trạng trì trệ - đã tạo nên khá nhiều hậu quả nghiêm trọng. Điều này có nghĩa là không có biến chuyển nhảy vọt trong sản lượng. Cách tăng trưởng duy nhất là tăng lượng sử dụng hai nguồn cơ bản nhất trong quá trình sản xuất: sức lao động và đất đai. Nhưng đến một mức độ nào đó thì quá trình gia tăng này đi ngược lại qui luật tái tạo (Law of Diminishing Returns - càng tăng khai thác thì sản lượng càng kém). Nói một cách đơn giản, sản lượng của xã hội nông nghiệp bị giới hạn trong một khoảng (ex hypothesi) định trước bằng kỹ thuật, cũng như khu vực canh tác bằng kỹ thuật đó. Một cách nôm na tức là quá trình sản xuất luôn có mức trần dù dân số có tăng đến mức nào đi nữa. Đây là loại hình xã hội Malthus. Từ phân tích trên dẫn đến kết luận: mối tương quan giữa nhóm thành viên toàn quyền và các nhóm liên kết trong môi trường khó khăn về nguồn khai thác chính là mô hình trò chơi kinh tế không lợi nhuận, zero-sum game. Trong mối quan hệ này không ai có thể kiếm lợi mà không làm cho người khácbị thiệt một khoản tương ứng.

9. Xã hội nông nghiệp chính là quần thể Malthus: sự đòi hỏi từ lực lượng lao động và phòng vệ khiến họ đề cao giá trị của con cái, đặc biệt là con trai, còn kỹ thuật bất biến đặt giới hạn cho sản xuất. Và hai yếu tố này khi kết nối đã tạo nên đặc tính của Malthus: mức tăng trưởng lũy thừa của dân số gặp phải mức tăng trưởng kém của sản lượng khiến cho toàn thể xã hội không thoát ra xa khỏi điểm đói, tức là thời điểm mà xã hội không có đủ lương thực cho thành viên. Và cứ sau từng giai đoạn thì xã hội lại đối mặt với nạn đói, do mất mùa hoặc biến cố xã hội.


10. Nạn đói không tấn công ngẫu nhiên. Trong xã hội nông nghiệp dân chúng chết đói tùy theo đẳng cấp. Vì xã hội nông nghiệp là hệ thống sản xuất và lưu trữ lương thực cho nên các kho lương thực hay khu lưu trữ được canh gác, còn sản vật được phân chia theo đúng đặc quyền đã định của mỗi thành viên. Ở Bắc Phi tiếng địa phương đang gọi hoặc từng gọi quốc gia là Makhzen - từ cùng gốc với kho, chỗ chứa. Từ khóa này ủng hộ cho giả thuyết chính quyền là để kiểm soát khu lưu trữ, hay chính quyền chính là sự kiểm soát khu lưu trữ.

11. Trong môi trường đó, chiến lược hợp lý của mỗi cá nhân hay nhóm người là đặc biệt quan tâm đến vị trí hay đẳng cấp của mình trong hệ bậc xã hội, chứ không phải chú tâm tăng sản lượng. Chính chỗ đứng trong xã hội, thứ bậc và đặc quyền của quí vị sẽ quyết định số phận của quí vị. Sản vật vượt bực có vẻ chỉ thu hút sự chú ý của đám cướp hay ngành thuế. Điều này không cần thiết. Cũng có thể giấu mức thu hoạch thừa và dùng để gia tăng độ an toàn của người chủ hoặc mở rộng đường tiến. Thế nhưng đây là chuyện hiếm. Con đường dẫn từ quyền lực thành tài sản thường gặp hơn là từ tài sản thành quyền lực. Ở Tây Ban Nha thời Trung cổ có câu châm ngôn rằng binh nghiệp là con đường nhanh và sáng giá để làm giàu hơn là buôn bán. Phương thức này hầu như có thể tổng quát lên cho hầu hết mọi xã hội nông nghiệp.

12. Qui luật quan trọng và đầy thuyết phục trên được thể hiện qua hệ thống định giá trị đặc trưng của các xã hội nông nghiệp. Nói chung hệ thống này coi nhẹ lao động mà đề cao "uy tín" - honour. Vậy uy tín là gì? Đó là cảm giác sợ hãi trước vị trí mà người đó có được, trộn lẫn với văn hóa thiên bạo lực cũng như kỹ năng gây áp lực và đe dọa. Điều này trở thành giá trị chủ đạo trong tầng lớp lãnh đạo của xã hội nông nghiệp. Nói chung nguyên tắc này thiết lập nên tầng lớp phong kiễn, tức là khái niệm đặc biệt nằm giữa chuyện xác định tư cách thành viên của một nhóm mặc định - và quyền sở hữu, thể hiện qua giá trị tổng hợp lại thành "uy tín". Thông thường đây là sự phối hợp qua nhiều loại hình khác nhau giữa các giá trị Đỏ và giá trị Đen của giới tôn giáo. Áp lực phổ cập trong xã hội nông nghiệp đòi hỏi phải có kết hợp, mà sự kết hợp thì lệ thuộc vào các qui tắc thành luật về mối quan hệ - quí vị phải biết đang lập đảng với ai. Áp lực sẽ hoạt động tốt nếu các băng đảng áp lực được định nghĩa rõ ràng và kết hợp tốt, với điều kiện là cơ cấu quyền lực nội bộ được làm rõ. Để duy trì tư tưởng và nghi lễ của các nguyên tắc luật đó cho thành viên và giới lãnh đạo thì cần phải có chuyên viên - có thể kể ra giới linh mục, giáo sĩ hay loại hình tưng đương - và trong cơ cấu đó phe Đen muốn chia quyền lực với phe Đỏ trong xã hội nông nghiệp. Xã hội thời Phục Hưng ở Thế kỷ 18 về cơ bản dựa trên triết lý là bác bỏ mối quan hệ đó. Có thể nói thẳng ra là tham vọng muốn chứng kiến vị vua cuối cùng bị treo cổ cùng với bộ đồ lòng của vị giáo sĩ cuối cùng. Chính thời kỳ Phục Hưng đã thể hiện chính xác bản chất của thế giới mà nó đã loại bỏ. Thời đó đã nhầm lẫn khi cho rằng thế giới đầy bất công và cả tin vừa thoát ra đơn giản chính là hệ quả của sự ngu dốt của con người, hay nói cách khác là thiếu khai hóa. Bất kể là cảnh treo cổ hoàng gia cùng với bộ đồ lòng của giáo sĩ gây chú ý qua tranh vẽ, điều đó không chấm dứt được xã hội nông nghiệp cùng hệ thống giá trị và hoang tưởng của nó. Hệ thống này bắt nguồn từ chính qui luật của xã hội nông nghiệp, chứ không phải từ sự tăm tối của loài người, hay ít nhất không phải từ ngu dốt.

13. Vòng lặp căn bản mà xã hội nông nghiệp bị khóa bên trong như thế là hoàn thiện, và khó ai có thể vượt qua (trên thực tế thì chuyện đó đã xảy ra dù không ai biết chắc đã thực hiện như thế nào). Tình trạng nông nghiệp đặt ra các giá trị nhất định mà theo đó kìm hãm sự phát triển và tăng trưởng sản lượng. Chính logic của trạng thái không lợi nhuận chung zero-sum đã đặt ra các giá trị đó. Và vòng lặp này không có lối thoát (hoặc nếu theo quí vị muốn, đã có một lần thoát, nhưng chỉ xảy ra một lần mà thôi, một cách tình cờ).

14. Ở đây vấn đề làm chúng ta quan ngại chính là các hệ quả tác động lên mối quan hệ giữa tổ chức và văn hóa. Xã hội nông nghiệp có xu hướng tổ chức theo thứ bậc, mà mỗi tầng lớp, mỗi thành viên đều chăm chăm giữ chỗ cùng quyền hành, chú tâm làm khác mình với tầng lớp thấp hơn, vốn luôn ngoi lên giành chỗ khi có cơ hội. Trong khi đó tầng lớp thấp nhất trong xã hội này, còn gọi là những nông dân bình thường, thì cũng được xếp vào những cộng đồng làng xã địa phương. Chuyện di chuyển giữa các nhóm bị hạn chế, chủ yếu là vì nông dân gắn liền với đất đai, một cách chính thức hoặc không chính thức. Tình trạng này cho phép thiết lập kỷ luật và bảo đảm chuyện giao nộp mức sản phẩm thừa. Trật tự xã hội có thể bị phá nếu giới bần cố nông có thể di chuyển đi tìm các điền chủ rộng rãi hơn. Ở Tây Âu sự thiếu hụt nhân lực sau đại dịch Black Death đã khiến giảm bớt mức độ hà khắc đối với nông nô. Nạn dịch khiến cho giới thống trị phải xử phạt nhẹ tay với tầng lớp dưới, cũng như phải động viên họ ở lại.

15. Nhìn chung thì về mặt giá trị, xã hội nông nghiệp không hề công bằng. Thậm chí xã hội nông nghiệp còn đề cao sự bất bình đẳng và che giấu ngăn ngừa quá trình dịch chuyển vị trí trong xã hội - một điều mà xã hội chúng ta đang sống có xu hướng làm ngược lại. Có vẻ như có thể áp dụng một qui luật phát triển đơn giản cho thời bấy giờ: càng đa dạng và càng "phát triển bao nhiêu thì càng bất công bấy nhiêu" (cf. Lenski 1965:43). Và mọi chuyện cứ như thế cho đến thời hiện đại. Thời này, với một số lý do sẽ được bàn đến sau, sẽ bảo tồn xu hướng đó đồng thời với việc, qua một số lý do có liên quan, tạo ra chủ nghĩa dân tộc.

16. thôi lười rồi, chắc năm sau sẽ dịch tiếp vậy.
16. Xã hội nông nghiệp khuyến khích khác biệt văn hóa bên trong. Các khác biệt đó giúp rất nhiều trong vận hành hàng ngày. Xã hội nông nghiệp cần duy trì một hệ thống phức tạp của thứ bậc, và điều quan trọng là các thứ bậc đó cần phải được cảm nhận và hiện diện, rằng đang tồn tại cả bên trong lẫn bên ngoài. Nếu thứ bậc được thể hiện rõ qua mọi biểu hiện giao tiếp bên ngoài, qua quần áo, quan hệ, giọng nói, dáng điệu cơ thể, mức độ giới hạn tiêu dùng và tương tự. vậy, điều này loại trừ những điều thiếu rõ ràng và giảm ma sát. Nếu vị trí, quyền lợi và nghĩa vụ của một ngườI trở thành một phần của tâm hồn, niềm tự hào, thì điều này một lần nữa sẽ lại giúp duy trì kỷ luật xã hội. Tác phẩm cổ điển về lý thuyết xã hội cho xã hội nông nghiệp là Republic của Plato trên thực tế định nghĩa đạo đức chính bằng cách đó: đạo đức bao gồm mỗi thành phần trong cấu trúc xã hội thể hiện nhiệm vụ được giao, hơn là gì khác.

17. Điều này dẫn đến phác thảo chính về vai trò của văn hóa trong xã hội nông ngihệp: chức năng chính là tăng cường, nhấn mạnh và thể hiện hệ thống vị trí thức bậc trông thấy và quyền lực của trật tự xã hội đó. (Khác biệt giữa các thành viên trong chuỗi sản xuất thực phẩm có vai trò khác hơn một chút trong việc giúp gắn bó các thành viên vào cộng đồng.) Cần ghi chú rằng nếu đây là vai trò cơ bản của văn hóa trong một xã hội như vậy thì nó không thể đồng thời giữ một vai trò khác: kể ra, là đánh dấu ranh giới giữa các vương quốc.

18. Đây chính là lý do cơ bản tại sao chủ nghĩa dân tộc – tư tưởng về một cơ quan chính trị hợp pháp được lập ra cho các thành viên vô danh của cùng một văn hóa – không thể dễ dàng hoạt động trong xã hội nông nghiệp. Tư tưởng này trái ngược sâu đậm với nguyên tắc tổ chức chính của nó, thể hiện vị trí qua văn hóa. Văn hóa này không chuyển vận và vô danh, mà giữ các thành viên ở tại “chỗ” của mình, và các nơi chốn đó được khắc họa bằng khác biệt văn hóa. Tương đồng văn hóa không thể làm tiền đề cho một kết gắn chính trị bên trong đó được: thường là các khác biệt văn hóa thể hiện ra bên ngoài bằng liên kết và lệ thuộc xã hội. Trong bối cảnh như vậy, khác biệt văn hóa thường tạo ra hoặc tăng cường đoàn kết chính trị. Đơn vị chính trị cá biệt của thời đại nông ngihệp thường nói chung là nhỏ hơn nhiều so với giới hạn do văn hóa đặt ra – các công quốc thành thị, các cộng đồng làng xã, các nhóm bộ tộc - hoặc lớn hơn rất nhiều: các đế quốc chọn lựa bằng văn hóa vốn không có lý do gì để giới hạn sự bành trướng khi gặp biên giới ngôn ngữ hay văn hóa (nằm ngoài mối quan tâm, và khác biệt). Đơn vị chính trị cá biệt nhất của thời nông nghiệp có thiên hướng tận dụng cả hai: một đế quốc liên sắc tộc có thể thống trị các cộng đồng sắc tộc bên dưới, được dùng như là cơ quan địa phương, ngườI thu thuế và người đại diện.

Nhưng có lẽ tới đây là đủ, còn vài paragraph nữa nhưng nói về bạo lực (cách mạng), hi hi.